-


Sau khi quá trình bả matít được hoàn tất và có một kết quả tốt, bề mặt phải trải qua một quá trình sơn lót bề mặt (tạo bề mặt). Nó bao gồm hoàn thiện bề mặt, mài bỏ các vết xước mài, chống rỉ và làm kín để cải thiện tính bám dính cho lớp sơn màu (trên cùng) tốt hơn.6. Sấy khô lớp sơn bề mặt
Quy trình bả matít
Tốt

1. Làm trầy xước để cải thiện tính bám dính
Rỗ, xước không
chấp nhận được
7. Bả matít sửa chữa nhỏ



2. Làm sạch bụi và mỡ



3. Che các bề mặt
Bề mặt không
thể chấp nhận
9. Mài lớp sơn lót bề mặt
được


1. LÀM TRẦY XƯỚC ĐỂ CẢI THIỆN TÍNH BÁM DÍNH
Sơn lót bề mặt hay sơn được phun trực tiếp lên bề mặt sơn lại, mà không cần chuẩn bị thêm, thì tính bám dính giữa các lớp sẽ rất kém, thường gây ra bong sơn khi có lực rung động và uốn. Vì vậy, trước khi phun thêm bất cứ loại sơn nào, các vết xước nhỏ như được tạo ra bởi giấy ráp phải được làm rõ hơn trên bề mặt hoạt động cũng như làm tăng diện tích bề mặt của nó, vì vậy cải thiện được tính bám dính. Quá trình này được gọi là “Làm trầy xước” và quá trình mài vát mép sơn giáp mối được thực hiện trước khi bả matít cũng la một phần của quá trình này.
VẼ HÌNH
Gắn giấy ráp có độ ráp #300 lên máy mài tác động kép và mài bề mặt chuẩn bị cho sơn lót bề mặt. Vì sơn lót bề mặt sẽ được phủ lên toàn bộ vùng matít, vùng để làm trầy xước nên rộng ra khoảng 100 mm so với mép ngoài của vùng matít.
VẼ HÌNH
Chú ý :
· Để tránh vùng sơn lan rộng ra không cần thiết, không được tạo xước dọc theo đường nối tấm hay đường gân, thậm chí nếu độ rộng nhỏ hơn 100 mm.
· Chắc chắn rằng độ nhẵn bóng đã được mài loại bỏ khỏi sơn. Nếu có bất cứ vùng nào còn có độ nhẵn bóng thì bề mặt sơn đã không bị ảnh hưởng bởi giấy ráp.
· Khi không thể dùng được máy mài thì mài bằng tay bằng cách dùng loại giấy ráp có độ ráp #600.
2. LÀM SẠCH BỤI VÀ MỠ
Đặc biệt chú ý khi loại bỏ các hạt ra khỏi lỗ rỗ sơn hay các khe hở khác, thổi khí nén vào bề mặt cũng như các khu vực lân cận. Dùng chất làm sạch mỡ để tiến hành theo quy trình sạch mỡ bình thường.
3. CHE PHỦ
Che các khu vực để tránh phun quá sơn lót không cần thiết.
VẼ HÌNH
Chú ý :
· Dán vật liệu sao cho vùng cần phun lót bề mặt phải được lộ ra mà không được vượt quá vùng đã được làm xước.
· Để tránh tạo ra các bậc dọc theo các mép của vùng đã được phun lót bề mặt, hãy dùng kỹ thuật che ngược để dán giấy che phủ.
4. TRỘN PHA SƠN LÓT BỀ MẶT
Tuân theo hướng dẫn của nhà sản xuất sơn lót bề mặt, đổ thêm chất đóng rắn vào sơn lót bề mặt Urethane và pha loãng hỗn ho85p với chất phasơn, dùng các dụng cụ đo thích hợp.
Chú ý :
· Chất màu bên trong sơn lót bề mặt có xu hướng đọng ở đáy, vì vậy lót bề mặt phải được pha đều trước khi sử dụng. Điều này cũng giống như cách pha sơn màu (lớp tren cùng).
· Mặc dù sơn lót bề mặt loại Lacquer rất dễ sử dụng các chất pha sơn khác nhau, nó giúp điều chỉnh thời gian khô dựa vào nhiệt độ của môi trường. Tương tự như vậy, phần mũi tên chung của hai loại chất pha sơn được trộn theo tỷ lệ nhất định để sử dụng.
· Thông thường, số lượng chất pha sơn được qui định bởi nhà chế tạo. Với lượng chất phas sơn ít hơn, thì lớp sơn lót bề mặt thường dày hơn, bề mặt có xu hướng xù xì hơn. Ngược lại, với lượng chất pha sơn nhiều hơn, dễ sơn lót bề mặt hơn, nhưng tại thời điểm đó dễ chảy sơn.
VẼ HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
5. PHUN SƠN LÓT BỀ MẶT
(1) Khuấy hỗn hợp sơn lót bề mặt, chất đóng rắn và chất pha sơn thật đều bằng đũa thủy tinh. Sau đó đổ vào súng phun sơn qua lưới lọc.
(2) Trước hết hãy phun lớp sơn lót bề mặt lên toàn bộ vùng bả matít cho đến khi ướt vùng đó.
Điều chỉnh lỗ phun sơn bình thường (đường kính lỗ phun sơn 1,5 mm).
Áp suất khí
2 ~ 2.5 kg/cm2
Lượng thoát sơn
Đóng hoàn toàn vít điều chỉnh sơn, và nới lỏng vít (2 vòng)
Khoảng cách súng phun
10 ~ 20cm
Độ xòe vệt sơn
Xoè lớn
VẼ HÌNH
(3) Hãy đợi một thời gian để dung ôi trong lớp sơn bề mặt bay hơi (cho đến khi giảm bớt độ bóng).
(3) Phun thêm từ hai đến ba lớp sơn lót bề mặt nữa, dùng kỹ thuật sơn tương tự như ở bước (2).
VẼ HÌNH
Chú ý :
· Mỗi lần phun sơn rộng hơn một chút lên khu vực cần sơn lót.
· Đợi đủ khô sau mỗi lần sơn.
· Sẽ tạo ra mép dày nếu vùng đó phun sơn quá nhiều, sơn lót bề mặt được phun quá lên giấy che phủ như ở phía dưới bên phải của hình vẽ.
· Nếu có một vài chỗ bị biến dạng (vết lõm nhe) trên bề mặt matít, phun lượng sơn lót bề mặt vừa đủ để phủ lên chỗ lõm, nhưng không được tạo ra chảy sơn.
6. SẤY KHÔ SƠN LÓT BỀ MẶT
(1) Để đảm bảo chất dung môi đã bay hơi hoàn toàn, hay theo chỉ dẫn của nhà sảnn xuất để xác định thời gian lắng sơn cụ thể khi dùng phương pháp sấy khô sơn cưỡng bức như dùng đèn (thời gian khô sơn phổ biến là 5 đến 15 phút ở nhiệt độ 200c).
(2) Sấy khô bề mặt làm việc theo hướng dẫn của nhà sản xuất (Xấp xỉ 15 đến 20 phút ở 600 c;90 d0ến 102 phút ở 200 c).
VẼ HÌNH
7. BẢ MATÍR SỬA CHỮA NHỎ (TOUCH – UP)
(1) Kiểm tra lỗ rỗ và các vết xước mài
Sau khi atít khô lỗ rỗ hay các vết xước mài của bề mặt. Nếu có, các khu vực ảnh hưởng phải được bả lại matí loại touch – up.
(2) Bả matít sửa chữa nhỏ (touch – up)
Có hai loại matít dùng để sửa chữa lại: Loại một thành phần và loại hai thành phần. Thông thường dùng loại một thành phần để bả lại matít vì nó đơn giản trong sử dụng. Trong phần này trình bày về việc bả matít sửa chữa nhỏ.
1/ Xúc matít touch – up và đặt lên tấm trộn. Nếu lấy matít ra từ tuýp, có thể bóp matít ra trực tiếp lên mũi của dao bả.
2/ Bả matít Touch – up để điền vào các lỗ rỗ và các vết xước.
Chú ý :
· Miết matít vào lỗ rỗ và vết xước.
· thường sửa bằng cách bả lớp matít mỏng, vì nó sẽ khô chậm nếu lớp dày.
· Có rất nhiều vết cần phải sửa lại, thì phải bả matít lên toàn bộ diện tich cần sơn lót bề mặt để tránh khỏi bỏ xót một vài chỗ.
8. SẤY KHÔ MATÍT SỬA CHỮA NHỎ (TOUCH – UP)
Sấy khô bề mặt làm việc theo các hướng dẫn của nhà sản xuất, (thông thường xấp xỉ 30 đến 40 phút ở nhiệt độ 200 c và 5 đến 10 phút ở nhiệt độ 600c).
VẼ HÌNH
9. MÀI LỚP SƠN LÓT BỀ MẶT
Lớp sơn lót bề mặt có thể được mài ướt hay mài khô. Lựa chọn phương pháp tốt nhất dựa vào ưu nhược của từng phương pháp đó như đã trình bày.
(1) Mài khô bằng tay
Gắn giấy ráp có độ ráp #600 lên dụng cụ mài bằng tay và mài sơn lót bề mặt.
Chú ý : Vì giấy ráp dễ tắc, thường xuyên dùng phần ướt của giấy ráp hay dùng chổi làm sạch các hạt mài.
(2) Mài khô bằng máy mài
Gắn giấy ráp có độ ráp #400 vào máy mài tác động kép va mài lớp sơn lót bề mặt.
Lưu ý : Không thể thực hiện mài khô bằng máy mài toàn bộ bề mặt, vì vậy để hoàn thiện công việc dùng cụng cụ mài bằng tay.
(3) Mài ướt bằng tay
Làm ướt vùng được mài bằng miếng mút nhúng vào nước khi mài sơn lót bề mặt dùng dụng cụ mài cầm tay với giấy ráp không thấm nước có độ ráp #600.
Chú ý : Sau khi mài hơi nươ81c phải được lau khô hoàn toàn.
VẼ HÌNH
(4) Mài ướt bằng máy mài
Gắn giấy ráp không thấm nước có độ ráp #400 hay cao hơn vào máy mài ướt và mài lớp sơn lót bề mặt.
Chú ý :
· Nếu máy mài ướt không có chức năng cấp nước tự động, thì phải làm ướt bằng miếng mút được nhúng nước giống như cách mài ướt bằng tay.
· Sau khi mài phải làm khô hoàn toàn hơi ẩm.
· Không thể hoàn toàn diện tích bằng máy mài ướt, vì vậy để hoàn thiện hãy dùng dụng cụ mài ướt cầm tay.
(5) Kiểm tra bề mặt sau khi mài
Nếu bề mặt được mài đồng đều, matít và lớp kim loại nền không lòi ra thì quy trình mài lớp sơn lót bề mặt được coi là hoàn tất.
Chú ý: Nếu sau khi mài, bề mặt bị mài quá mức để lộ matít hay kim loại nền, thì chất lượng bề mặt (độ ráp bề mặt) sẽ bị ảnh hưởng do hấp thụ sơn. Điều này cũng tạo ra gỉ. Nếu điều này xảy ra, quay lại giai đoạn phun sơn lót và làm lại từ đầu.
VẼ HÌNH
10. LÀM XƯỚC BỀ MẶT ĐỂ CHUẨN BỊ CHO LỚP SƠN MÀU (TRÊN CÙNG)
Bước tiếp theo sau khi mài lớp sơn lót bề mặt là phun lớp sơn màu. Tuy nhiên, diện tích đó phải được làm xước nhẹ để chuẩn bị cho sơn màu. Làm xước nhẹ là bước quan trọng trong giai đoạn bả matít và phun sơn lót bề mặt vì nếu không có nó, sơn sẽ bị bong ra sau này.
(1) Mài lại cả tấm
Mài toàn bộ tấm khi mài lớp sơn lót bề mặt. Bề mặt được sơn có độ nhấp nhô giống như vỏ cam. Khi dùng giấy ráp để mài phẳng bề mặt làm việc sẽ loại bỏ được độ nhấp nhô vỏ cam. Không thể đạt được chất lượng sơn cuối cùng tốt nếu trước hết không loại bỏ nhấp nhô dạng vỏ cam trên bề mặt làm việc.
VẼ HÌNH
Chú ý : Phải làm xước nhẹ để loại bỏ được độ nhấp nhô trên toàn bộ bề mặt. Nếu có bất cứ vùng nào độ bóng bề mặt vẫn còn, thì bề mặt chưa bị ảnh hưởng bởi xước xây xước của giấy ráp và nhấp nhô kiểu vỏ cam chưa được loại bỏ.
VẼ HÌNH
(2) Sơn lại vùng nhỏ trên tấm
Sau khi mài sơn lót bề mặt, dùng hợp chất đánh bóng và giẻ để mài xước nhẹ rộng hơn khoảng 300mm so với vùng đã sơn lót bề mặt. Làm xây xước không làm mất độ nhấp nhô, nhưng để lại các vết xước nhỏ trên bề mặt. Vì phần góc của tấm (Đậm màu) sẽ được phun một lớp mỏng, kết quả nhận được tốt nhất là nhấp nhô bề mặt được giữ lại nguyên vẹn.
VẼ HÌNH
Chú ý : Trong khi mài lớp sơn lót bề mặt, không cần thiết phải mở rộng diện tích với các vết xước.
VẼ HÌNH
11. PHUN SƠN LÓT BỀ MẶT TRÊN MỘT TẤM MỚI
Khi thay thế một tấm mới, toàn bộ tấm phải được phun lớp sơn lót bề mặt trước khi phun lớp trên cùng. Các bước bao gồm phun sơn lót bề mặt lên tấm mới giống như áp dụng phun sơn lót từng phần và được môtả như sau. Phương pháp phun về cơ bản là giống như phu lớp sơn trên cùng.





