-
Phun sơn theo nhiều phương phap khác nhau, tuỳ thuộc vào hình dáng và vật liệu của vật cần sơn và loại trang thiết bị hiện có.
1. PHUN SƠN
Nguyên lý sơn phun là phun sơn ở dạng sơn được xé nhỏ , dính lên vật thể. Phương pháp phun sơn này thường được áp dụng trong sơn sửa (sơn lại ) ô to.
· Xé nhỏ tia sơn làm cho công việc hiệu quả và đảm bảo sơn đẹp.
· Phun sơn cũng có phạm vi áp dụng lớn. Vì hình dáng hay vật liệu của vật thể thường không ảnh hưởng đến kết quả.
· Do sơn bị xé nhỏ, tỷ lệ sơn tương đối lớn, bị mất dưới dạng sương mù không đến được vật thể.
· Để xé nhỏ sơn phù hợp, độ nhớt của sơn phải được duy trì ở mức thích hợp, cần một lượng dung môi và chất pha sơn lớn.
·
Nguyên lý
Đặc điểm
Áp dụng
Phun sơn có không khí
Dựa vào nguyên lý xé nhỏ sơn, phun khí được thực hiện hoàn toàn bằng cách xả khí nén qua một lỗ nhỏ làm cho sơn bị rút ra, vì vậy xé nhỏ được tia sơn.
· Phương pháp này được áp dụng cho hầu hết các loại sơn.
· Giá cả thiết bị tương đối thấp.
· Chất lượng tốt.
· Có thể sơn ở hình dáng phức tạp do dễ điều khiển áp suất không khí và điều chỉnh vệt sơn.
· Hiệu quả bám dính tương đối kém.
Chủ yếu dùng sơn diện tích tương đối nhỏ, như ôtô, phụ tùng và đồ đạc cần người lao động có tay nghề cao.
Phun không có không khí
Nguyên lý cơ bản giống như ống phun nước ra dưới dạng sương mù, khi bịt đầu ống của nó. Bản thân sơn ở áp suất cao, được phun qua một lỗ nhỏ của đầu súng phun, nó được xé nhỏ sơn thành tia trong không khí.
· Tạo ra sơn dạng sương mù ít hơn phương pháp phun có không khí.
· Hiệu quả bám dính cao hơn phương pháp sơn có không khí.
· Được dùng với sơn có độ nhớt cao hơn.
· Lượng sơn được phun ra nhiều hơn.
· Chất lượng sơn kém hơn phương pháp phun có khí.
· Vệt sơn và lượng phun không thể điều chỉnh được.
· Chủ yếu dùng để sơn với diện tích lớn, tàu biển, dầm cầu..
· Cũng được dùng để sơn các phần dưới của ôtô.
Sơn tĩnh điện
VẼ HÌNH
Sơn tĩnh điện dùng nguyên lý các hạt tích điện dương và âm hút nhau, và các điện tích cùng dấu đẩy nhau. Thiết bị sơn tĩnh điện cùng cực âm để nạp sơn, làm cho các hạt sơn đẩy nhau và biến thành dạng sương mù. Sau đó các hạt sơn này được hút vào thân xe tích điện dương.
· Có hiệu quả bám sơn cao, mất sơn ít nhất.
· Xé nhỏ sơn hiệu quả và cấu trúc lớp sơn tốt.
· Tốc độ sơn cao hơn.
· Các vùng bị lõm có điện thế thấp, chỗ đó bám sơn kém, vì vậy cần phải thêm thời gian sửa chữa.
· Phương pháp này không áp dụng được với các vật liệu không dẫn điện như kính, nhựa hay gỗ.
· Chủ yếu dùng trong các dây chuyền sản xuất ô tô hàng loạt hay các đồ dùng bằng điện.
2. CÁC PHƯƠNG PHÁP SƠN KHÁC
Phương pháp
Nguyên lý
Đặc điểm
Áp dụng chính
Sơn bằng dao sơn
Dao sơn làm bằng gỗ, kim loại, nhựa hay cao su được dùng để sơn và quét trên bề mặt làm việc.
· phương pháp này dùng để sơn vật liệu độ nhớt cao, lớp dày.
Dùng bả matít, điền đầy hay Lacquer.
Sơn bằng chổi
Chổi được làm bằng lông lợn hay lông ngựa để sơn lên bề mặt làm việc.
· Dễ dùng không phụ thuộc vào hình dạng, vị trí và loại thiết bị.
Dùng trong xây dựng và các ứng dụng khác.
Lăn sơn
Con lăn làm từ lông hay vật liệu tổng hợp để phủ sơn trên bề mặt làm việc.
· Phương phap này rất phù hợp cho sơn tường và mặt phẳng khác.
· Con lăn được thiết kế đặc biệt có thể tạo ra độ nhấp nhô trên bề mặt làm việc.
Dùng trong xây dựng và các ứng dụng khác.
Nhúng
Vật thể được nhúng trong bình chứa sơn và nhấc vật ra.
· Toàn bộ vật thể được sơn một lần, phù hợp cho sản xuất hàng loạt.
· Sơn mất mát ít nhất.
Dùng để sơn ô tô, các chi tiết, ống hay đồ dùng gia dụng phức tạp.
Sơn ED (điện phân)
Dòng một chiều được cấp vào bể sơn và vật thể. Lớp sơn tạo ra dính vào vật thể qua một quy trình gọi là sự điện phân.
· Tham khảo.
· Tỷ lệ sơn mất mát là ít nhất.
· Sơn toàn bộ vật thể một lần.
· Phương pháp này tương đối ít lỗi sơn, thường được kết hợp với phương pháp nhúng. Quy trình này có htể kiểm soát được chiều dày lớp sơn.
Dùng để sơn các sản phẩm kim loại và các chi tiết nói chung.
Sơn tắm
Phương pháp này dùng một bơm phân phối sơn đến vòi phun, làm cho sơn chảy vào bề mặt làm việc.
· Toàn bộ vật thể có thể sơn một lần, rất lý tưởng cho sản xuất hàng loạt.
· Tỷ lệ sơn mất mát là ít nhất.
· Cần một lượng sơn ít hơn so với sơn nhúng.
Dùng sơn ôtô, phụ tùng , các ống và các chi tiết có hình dáng phức tạp.
Phủ bột
Sau khi nhựa bột phủ lên bề mặt làm việc, nó được nung chảy bởi nhiệt để tạo ra một lớp sơn.
· Sơn toàn bộ vật thể có hình dáng phức tạp có thể phủ một lần.
· Chiều dày lớp sơn có thể điều chỉnh bằng cáh kiểm soát về thời gian mà vật thể chìm trong bồn bột.
Dùng sơn giỏ xe đạp, giá máy lạnh, ghế để ngoải trời.
Tham khảo :
Có hai loại sơn Electrodeposite, quá trình kết tủa bằng điện ion tích điện âm chuyển động đến cực dương thân xe và quá trình kết tủa bằng điện ion tích điện dương chuyển động đến cực âm thân xe.
VẼ HÌNH
Quá trình kết tủa bằng điện ion tích điện âm chuyển động đến cực dương, thân xe là cực dương và bình tích điện âm. nạp điện âm vào bể, các hạt nhựa mang điện âm (ion âm). Khi có dòng điện chạy qua, các hạt nhựa đi đến bề mặt thân xe tích điện dương, ở đó trung hòa điện âm của nó, vì vậy tách ra khỏi các phần tử nhựa không hòa tan được.
Quá trình kết tủa bằng điện ion tích điện dương chuyển động đến cực âm, thân xe là cực âm và bình tích điện dương. Quy trình này dùng loại sơn chứa các hạt nhựa đi đến cực âm (ion dương) trong bể. Sơn kết tủa bằng điện dương có tính chống rỉ tốt hơn loại sơn kết tủa bằng điện âm, vì vậy loại sơn tích điện dương được sử dụng trong hầu hết loại sơn ôtô hiện đại.




